Chào mừng bạn đến với Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh và Xúc tiến du lịch tỉnh Hà Tĩnh -*-*- Welcome visit to Ha Tinh Center for Culture, Cinema and Tourism Promotion

KỊCH HÁT NGHỆ TĨNH – NHỮNG ĐIỀU GHI NHẬN

KỊCH HÁT NGHỆ TĨNH – NHỮNG ĐIỀU GHI NHẬN

            Dân ca Nghệ Tĩnh là một bộ phận nằm trong kho tàng Dân ca Việt Nam, được bắt nguồn và hình thành từ chính cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương, là “đặc sản”, “thổ sản”  mang đậm bản sắc của người Xứ Nghệ. Từ đời này qua đời khác, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh - một thứ sản phẩm tinh thần được xem là “đặc sản”, “thổ sản” của người Nghệ được làm ra một cách tự phát, hồn nhiên, mộc mạc của người lao động, mang đậm bản sắc văn hóa Xứ Nghệ. Theo dòng chảy của thời gian, với sự vào cuộc của các danh sĩ, nhà nho và sự thổi hồn của các thế hệ nghệ nhân, nghệ sỹ của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian này đã ngày càng được hoàn thiện, có bố cục chặt chẽ, câu từ tinh tế, vần điệu chắt lọc để trở thành một loại hình nghệ thuật hấp dẫn có giá trị nghệ thuật cao. Từ  những tổ khúc dân ca, trích đoạn, hoạt ca, hoạt cảnh đã xuất hiện một số vở ca kịch ngắn của các tác như: Khi ban đội đi vắng, Cô gái sông Lam (Nguyễn Trung Phong); Bóng đa đầu làng, Lộng mãi gió xuân (Phan Lương Hảo);  Bên dòng nước (Từ Thanh Liên); Thanh kiếm họ Trần (Trần Văn Chi); Không phải tôi (Nguyễn Trung Giáp) Lúc này các tác phẩm chủ yếu sử dụng các làn điệu hò, ví, giặm, sa mạc, ngâm thơ, nói vần, hát sử, trống quân, hát sắp, ngâm vỉa,… nhưng đã chính thức mở đầu cho quá trình thể nghiệm sân khấu hóa Kịch hát Nghệ Tĩnh.

         

          Kịch hát Nghệ Tĩnh ra đời là sự chuyển hóa quan trọng từ loại hình ca hát dân gian sang loại hình ca kịch sân khấu. Ngay từ lúc ra đời, Kịch hát Nghệ Tĩnh chưa thể trở thành một loại hình sân khấu hoàn thiện mà còn phải trải qua một quá trình dài vừa làm nhiệm vụ thể nghiệm sân khấu, vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu, phổ biến và quảng bá dân ca. Đầu thế kỷ 21, xuất hiện nhiều tác giả, đạo diễn, nhạc sĩ có tên tuổi như Lưu Quang Vũ, Phan Lương Hảo, Vũ Hải, Nguyễn Trung Phong, Ngọc Phương, Xuân Huyền, Hồ Hữu Thới, Lê Hàm, Thanh Lưu, An Thuyên, Văn Thế, Quốc Nam, Mai Hồng, Vi Phong, Đình Bảo, Mạnh Chiến, Đình Đắc, Phan Thành, Mai Cường, Ngọc Thịnh, An Ninh, Hồng Lựu… Đội ngũ nghệ sĩ, nhạc sĩ của 2 tỉnh đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra hàng trăm làn điệu dân ca cải biên cùng các ca khúc mang âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh. Trong đó, có khoảng 1/3 số làn điệu cải biên được sử dụng trong nhiều vở diễn, kết hợp nhuần nhuyễn với các làn điệu gốc và gần gốc. Trong đó, nhiều làn điệu cải biên như Tứ hoa, Làn khuyên, Giận thương, Niềm tin, Con cóc, Gốc lúa quầng trăng, Hội đông xuân, Chớp bể mưa nguồn, Lập lờ, Làn tiên, Gió say trăng… được sử dụng nhiều nhất, bởi đây là các làn điệu có kịch tính, làm nên sự thành công của những vở diễn lớn. Nhiều vở kịch hát Nghệ Tĩnh lần lượt ra đời, với đa dạng đề tài, từ dân gian cho đến sử thi, cách mạng và hiện đại như: Cô Tám của Phan Lương Hảo; Đốm lửa núi Hồng của Nguyễn Thế Kỷ…Trải qua gần 10 năm thể nghiệm, vở ca kịch Mai Thúc Loan của tác giả Phan Lương Hảo, được tặng Huy chương Vàng tại Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985 - đánh dấu sự thể nghiệm thành công toàn diện, từ khấu kịch bản, đạo diễn, âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, phục trang, hóa trang, đạo cụ… Sự thành công rực rỡ của vở Mai Thúc Loan, kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã được giới sân khấu cả nước công nhận, trở thành một bộ môn kịch hát mới “Kịch hát dân ca”. Sau đó, một số vở diễn được tiếp tục dàn dựng và công diễn rộng rãi như: Chuyện tình ông vua trẻ của Phùng Dũng, Danh nhân lớn lên từ điệu hò, câu ví của Vũ Hải; Bão táp cửa Kỳ Hoa của Phạm Ngọc Côn; Ông vua hóa hổ, Hai ngàn ngày oan trái, Quyền được sống hạnh phúc của Lưu Quang Vũ… Mỗi vở diễn ra đời đều đón nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của công chúng khán giả cả nước, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ của Kịch hát Nghệ Tĩnh trong cộng đồng.

         Trước sự khích lệ của công chúng và sau khi thể nghiệm thành công một số vở diễn, Kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh tiếp tục ra đời nhiều vở diễn có quy mô khác nhau và đa dạng về chủ đề và xuất hiện nhiều làn điệu cải biên có giá trị về nghệ thuật lẫn nội dung văn học. Nhiều vở diễn về đề tài lịch sử, danh nhân, kháng chiến và cách mạng, dã sử, dân gian có quy mô hoành tráng được tiếp tục dàn dựng và công diễn như Bão táp cửa Kỳ Hoa của Phạm Ngọc Côn; Ông vua hóa hổ của Lưu Quang Vũ; Quyền uy và tội ác của Phạm Ngọc Sơn; Chuyện tình ông vua trẻ của Phùng Dũng; La sơn Nguyễn BiểuLửa Ngàn sâu của Phạm Đức Ban; Nặng gánh sơn hà của Nguyễn Khắc Phục; Dòng lệ Tố Như của Trần Đình Ngôn; Lời người lời của nước non của Vũ Hải; Khoảng trời con gái của Nguyễn Sỹ Đại; Hoa lửa Truông Bồn của Nguyễn Thế Kỷ… Hầu hết các kịch bản văn học vốn từ kịch thơ, kịch nói, chèo, cải lương… đã được các nghệ sỹ tài năng như An Ninh, Hồng Lựu, Đình Đắc, Lê Hùng, Đình Bảo, Lê Hàm, Mai Hồng, Hồ Hữu Thới, Xuân Huyền, Ngọc Ất, Trọng Khôi, Quang Ngoạn,… chuyển thể, lồng điệu và dàn dựng. Bên cạnh đó, lực lượng nghệ sĩ trình diễn cũng đã dày công luyện tập, sáng tạo để làm nên những vở diễn có chất lượng nghệ thuật. Trong đó, tên tuổi của nhiều nghệ sĩ gắn với các vai diễn trong các vở kịch hát đã được phong tặng các danh hiệu cao quý là Nghệ sĩ Nhân dân như: Hồng Lựu, An Phúc, Tiến Dũng và danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú dành cho: Đức Duy, Quốc Nam, Song Thao, Danh Cách, Hồng Năm, Ngọc Ất, Đình Toàn, Hồng Dương, An Ninh,  Đình Đắc, Thủy Kiên, Hồng Năm, Lệ Thanh, Hồng Dương, Thiên Huế, Kim Thành…, … Các nghệ sỹ này không chỉ đem lời ca tiếng hát của mình phục vụ công chúng trên sân khấu, họ đã lặn lội về tận xã, phường, thôn xóm vừa tuyển diễn viên, vừa xây dựng đội văn nghệ, vừa truyền dạy cho các hạt nhân ở cơ sở các làn điệu vừa được thể nghiệm thành công trong các vở diễn. Nhờ vậy, hàng loạt các vở kịch ngắn, hoạt ca, hoạt cảnh được ra đời từ phong trào văn nghệ quần chúng ở các địa phương. Một số tác giả bán chuyên nghiệp cũng từng bước được tiếp cận các nghệ sỹ chuyên nghiệp để hoàn thiện về nội dung cũng như hình thức và phong phú về làn điệu trong các vở diễn của mình. Tiêu biểu là các vở O Thất mất bò, O hàng bán rượu của Cao Xuân Thưởng; Nước mắt người mẹ, Kê minh thập sách của Hoàng Vinh; Báu vật của muôn đời Màn kịch chiều cuối năm; Chọn sống của Sỹ Thiện; Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng của Nguyễn Ban, Duyên nợ hai làng của Trần Hoàng; Thắm tình hai quê của Tiến Khởi; Chuyện hai làng của Bá Ngọc,

         Trải qua thăng trầm, biến đổi của lịch sử, xã hội, kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã làm tốt việc kế thừa và phát huy vốn cổ của cha ông. Với sự tham gia tích cực của lực lượng văn nghệ sỹ 2 tỉnh qua nhiều thế hệ, đã góp phần nâng vị thế của Dân ca Nghệ Tĩnh lên tầm cao mới, tạo ra sự hòa quyện giữa thơ ca bình dân và thơ ca bác học; giữa âm nhạc dân gian và âm nhạc hiện đại… các yếu tố mỹ thuật sân khấu, hóa trang, phục trang, đạo cụ cũng từng bước được cải thiện; trình độ thưởng thức nghệ thuật của đại đa số quần chúng nhân dân được nâng lên rõ rệt; khoảng cách hưởng thụ nghệ thuật giữa các vùng miền được xích lại gần nhau. Điều đáng khích lệ là, người nghệ sỹ luôn là “cầu nối” với nghệ nhân dân gian; giữa sân khấu chuyên nghiệp và sân khấu không chuyên để đưa Kịch hát Nghệ Tĩnh đến với cộng đồng, đến với công chúng./.

Phan Thư Hiền

Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận